Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) - Chi nhánh tỉnh Khánh Hòa
Địa chỉ : 65 Yersin
Điện thoại:  0583.825091 - Fax: 0583.825435

813 lượt xem
nhận xét
Mức giá: Địa điểm chưa cập nhật thông tin về giá sản phẩm, dịch vụ
Giờ dịch vụ:
Miêu tả Sản phẩm
Vào đúng ngày kỷ niệm 116 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, ngày 19/5/2006, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 108/2006/QĐ-TTg thành lập Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) trên cơ sở tổ chức lại hệ thống Quỹ Hỗ trợ phát triển.

Trải qua 5 năm hình thành và hoạt động của VDB theo mô hình mới, một thời gian chưa
Vào đúng ngày kỷ niệm 116 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, ngày 19/5/2006, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 108/2006/QĐ-TTg thành lập Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) trên cơ sở tổ chức lại hệ thống Quỹ Hỗ trợ phát triển.

Trải qua 5 năm hình thành và hoạt động của VDB theo mô hình mới, một thời gian chưa phải là dài đối với một tổ chức song tập thể 3.000 cán bộ viên chức VDB đã nỗ lực không ngừng, sáng tạo, đoàn kết, vượt qua thách thức, hoàn thành nhiệm vụ được giao và VDB đã từng bước phát huy vai trò của một Ngân hàng chính sách của Chính phủ, trở thành một định chế tài chính quan trọng cung cấp nguồn lực tài chính cho tăng trưởng kinh tế, có những đóng góp nhất định vào sự thành công của các doanh nghiệp, các tập đoàn kinh tế và tăng trưởng kinh tế của đất nước. Kết quả hoạt động của VDB gắn liền với kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm qua của Chính phủ, là một mốc son trong tiến trình phát triển của đất nước.

Bước vào những năm đầu của thập kỷ 1990, đường lối cải cách kinh tế của Đảng và Nhà nước ngày càng được khẳng định rõ nét và đi vào thực tiễn sâu rộng theo hướng đổi mới toàn diện cơ chế quản lý kinh tế, chuyển từ hình thức kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang cơ chế kế hoạch hóa định hướng, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước.
Lĩnh vực đầu tư và xây dựng có những thay đổi mang tính đột phá nhằm huy động tối đa các nguồn vốn thuộc các thành phần kinh tế để thu hút vốn đầu tư phát triển kinh tế.

Chính sách đầu tư nhà nước thời kỳ này có những thay đổi quan trọng với việc cơ cấu chi ngân sách nhà nước thay đổi theo hướng đối với các dự án đầu tư có khả năng thu hồi vốn chuyển sang cơ chế cho vay vốn để đầu tư, theo đó, khuyến khích doanh nghiêp tự đầu tư, tự vay, tự trả, tự chịu trách nhiệm về kết quả đầu tư; đối với những dự án cần khuyến khích đầu tư, nằm trong chương trình kinh tế của Chính phủ, tạo đà cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc dân, được Chính phủ bố trí kế hoạch đầu tư và cho vay đầu tư có hoàn lại với lãi suất ưu đãi. Vốn cấp phát của Nhà nước chỉ chi cho những công trình quan trọng có ý nghĩa an ninh, quốc tiếp. phòng, các dự án lớn, công trình lớn không có khả năng thu hồi vốn trực tiếp.
Trong thời kỳ này, vốn ngân sách nhà nước dành cho đầu tư xây dựng cơ bản được thực hiện thông qua 2 kênh là:

- Cấp phát trực tiếp cho dự án đầu tư theo hình thức không hoàn lại
- Cho vay theo kế hoạch nhà nước với tính chất ưu đãi có hoàn lại vốn và trả lãi.

Hình thức cho vay với lãi suất ưu đãi theo kế hoạch của nhà nước gọi là tín dụng đầu tư nhà nước. Cụm từ \"tín dụng đầu tư nhà nước\" ra đời và được sử dụng từ đó trong các văn bản chế độ quản lý về đầu tư và xây dựng.

I. THÀNH LẬP TỔNG CỤC ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN - RA ĐỜI TỔ CHỨC ĐẦU MỐI QUẢN LÝ TÀI CHÍNH ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CỦA NHÀ NƯỚC ( Từ 01/01/1995 đến 31/12/1999)

Ngày 10/12/1994, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 187/CP thành lập Tổng cục Đầu tư phát triển trực thuộc Bộ Tài chính để thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài chính đầu tư phát triển; tổ chức thực hiện cấp phát vốn ngân sách nhà nước đầu tư và vốn tín dụng ưu đãi của nhà nước đối với các dự án, mục tiêu, chương trình theo danh mục do Chính phủ quyết định hàng năm.

Từ 01/01/1996, Tổng cục ĐTPT còn được Thủ tướng Chính phủ giao điều hành tác nghiệp Quỹ Hỗ trợ đầu tư quốc gia, thành lập theo Quyết định số 808/QĐ-TTg ngày 09/12/1995 để huy động vốn và cho vay đối các dự án đầu tư phát triển các ngành, nghề thuộc diện ưu đãi và các vùng có khó khăn theo quy định của Chính phủ.

Theo Nghị định số 187/CP, Bộ máy của Tổng cục Đầu tư phát triển được tổ chức thành hệ thống từ Trung ương đến tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương:

1. Ở trung ương có Tổng cục Đầu tư phát triển trực thuộc Bộ Tài chính.

Tổng cục Đầu tư phát triển có Tổng cục trưởng và các Phó Tổng cục trưởng giúp việc. Tổng cục trưởng do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm theo đề nghị của Bộ tài chính, Phó tổng cục trưởng do Bộ trưởng Bộ tài chính bổ nhiệm theo đề nghị của Tổng cục trưởng Tổng cục Đầu tư phát triển.

Bộ máy giúp việc Tổng cục trưởng gồm có:
+ Vụ Kinh tế kế hoạch,
+ Vụ Cấp phát vốn đầu tư
+ Vụ Tín dụng ưu đãi đầu tư,
+ Vụ Kế toán,
+ Vụ Kiểm tra- giám sát,
+ Văn phòng Tổng cục

2. Ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có Cục Đầu tư phát triển trực thuộc Tổng cục Đầu tư phát triển được thành lập theo Quyết định số 1198/QĐ-BTC ngày 20/12/1999 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, thực hiện nhiệm vụ cấp phát vốn đầu tư và cấp vốn tín dụng ưu đãi đầu tư trên địa bàn.

3. Tại khu vực có khối lượng lớn vốn đầu tư của Nhà nước, hoặc có công trình nhóm A, Bộ trưởng Bộ Tài chính được thành lập Phòng hoặc Chi cục Đầu tư phát triển trực thuộc Cục hoặc Tổng cục Đầu tư phát triển. Phòng hoặc Chi cục Đầu tư phát triển giải thể sau khi kết thúc công trình.

Tại Cục Đầu tư phát triển các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có Cục trưởng, Phó Cục trưởng do Bộ trưởng Bộ Tài chính bổ nhiệm. Chi cục trưởng, Phó Chi cục trưởng, Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng do Tổng Cục trưởng bổ nhiệm.

Tại mỗi Cục Đầu tư phát triển có từ 4 đến 8 Phòng tuỳ theo quy mô hoạt động: Phòng cấp phát (có chia ra Phòng Cấp phát Trung ương, địa phương), Phòng Tín dụng đầu tư (Trung ương, địa phương), Phòng Kế toán, Phòng Tổ chức hành chính.

Tính đến thời điểm 31/12/1999, toàn hệ thống Tổng cục Đầu tư phát triển có 2.450 công chức, trong đó tại cơ quan Tổng cục 155 người, hệ thống các Cục, Chi cục Đầu tư phát triển là 2.295 người.

II. THÀNH LẬP QUỸ HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN- BƯỚC ĐỘT PHÁ TRONG ĐỔI MỚI MÔ HÌNH TỔ CHỨC TÀI CHÍNH ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CỦA CHÍNH PHỦ

1. Thành lập Quỹ Hỗ trợ phát triển
Để thực hiện đường lối đổi mới toàn diện cơ chế quản lý kinh tế và cơ chế quản lý tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, nhằm góp phần thực hiện chủ trương phát huy nội lực, điều chỉnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 và Trung ương 6 lần 1 khoá VIII, và để tách bạch rõ ràng hơn nữa hoạt động quản lý Nhà nước của cơ quan quản lý nhà nước, công tác quản lý và kiểm soát chi ngân sách nhà nước của Kho bạc Nhà nước và hoạt động cho vay ưu đãi theo cơ chế chính sách của Nhà nước, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 43/1999/NĐ-CP ngày 29 tháng 6 năm 1999 về tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước.
Đây là văn bản pháp lý đầu tiên về tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước. Tại Điều 1 Nghị định này, Chính phủ đã quy định: “Chính phủ thành lập Quỹ Hỗ trợ phát triển để thực hiện chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển của Nhà nước”.
Ngày 08/7/1999, Chính phủ ban hành Nghị định số 50/1999/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Quỹ Hỗ trợ phát triển, theo đó thành lập Quỹ Hỗ trợ phát triển để huy động vốn trung và dài hạn, tiếp nhận và quản lý các nguồn vốn của Nhà nước dành cho tín dụng đầu tư phát triển để thực hiện chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển của Nhà nước.

Căn cứ Nghị định số 145/1999/NĐ-CP ngày 20/9/1999 của Chính phủ về tổ chức lại Tổng cục Đầu tư phát triển trực thuộc Bộ Tài chính; căn cứ Nghị định số 50/1999/NĐ-CP ngày 8/7/1999 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Quỹ Hỗ trợ phát triển, Liên bộ Bộ Tài chính - Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ đã có hướng dẫn việc bàn giao nhiệm vụ, nhân sự và biên chế của hệ thống Tổng cục Đầu tư phát triển và Quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia, theo đó:

- Tại cơ quan Tổng cục:
+ Vụ Đầu tư thuộc Bộ Tài chính tiếp nhận và tiếp tục thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu xây dựng chế độ, chính sách về quản lý tài chính đầu tư, kế hoạch vốn đầu tư, tham gia thẩm định dự án đầu tư, thẩm định quyết toán dự án nhóm A.
+ Kho bạc nhà nước Trung ương tiếp nhận và tiếp tục thực hiện nhiệm vụ thẩm định cấp phát vốn đầu tư, kế toán tổng hợp, kế toán thanh toán vốn đầu tư thuộc NSNN và toàn bộ nhiệm vụ quản lý, cấp phát, thanh toán vốn đầu tư công trình liên tỉnh.
+ Quỹ Hỗ trợ phát triển (HTPT) tiếp nhận và tiếp tục thực hiện nhiệm vụ quản lý vốn tín dụng ưu đãi đầu tư do Tổng cục Đầu tư phát triển đang thực hiện và toàn bộ nhiệm vụ của Quỹ Hỗ trợ đầu tư quốc gia.

- Tại các Cục Đầu tư phát triển tỉnh:
+ Sở Tài chính vật giá tiếp nhận và tiếp tục thực hiện nhiệm vụ hướng dẫn cơ chế chính sách, kế hoạch vốn đầu tư, tham gia thẩm định dự án đầu tư, thẩm tra quyết toán dự án đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước.
+ Kho bạc nhà nước ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tiếp nhận và tiếp tục thực hiện nhiệm vụ thẩm định cấp phát vốn đầu tư, thanh toán, kế toán, quyết toán vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước tại địa bàn.
+ Chi nhánh Quỹ Hỗ trợ phát triển tiếp nhận và tiếp tục thực hiện nhiệm vụ quản lý vốn tín dụng ưu đãi do Cục Đầu tư phát triển, Chi cục Đầu tư phát triển tỉnh đang thực hiện và toàn bộ nhiệm vụ của Chi nhánh Quỹ Hỗ trợ đầu tư quốc gia.
Sau khi nhận bàn giao, Quỹ Hỗ trợ phát triển chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/01/2000.

Việc thành lập Quỹ Hỗ trợ phát triển là một bước đi quan trọng trong việc đổi mới quản lý tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước - tập trung vào một đầu mối, khắc phục những tồn tại của cơ chế tín dụng đầu tư phát triển trong 10 năm trước theo hướng giảm bao cấp, tăng cường hiệu quả vốn đầu tư, nâng cao tính tự chủ tự chịu trách nhiệm của chủ đầu tư và cơ quan cho vay, tách bạch tín dụng chính sách và tín dụng thương mại trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản.

2. Chức năng, nhiệm vụ của Quỹ HTPT
Theo Nghị định số 50/1999/NĐ-CP ngày 8/7/1999 của Chính phủ, Quỹ HTPT là một tổ chức tài chính Nhà nước hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, bảo đảm hoàn vốn và bù đắp chi phí, có tư cách pháp nhân, có vốn điều lệ là 3.000 tỷ đồng, hoạt động theo Điều lệ do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Quỹ HTPT có nhiệm vụ:

- Huy động vốn trung và dài hạn, tiếp nhận và quản lý các nguồn vốn của Nhà nước (bao gồm cả vốn trong và ngoài nước) để thực hiện chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển của Nhà nước;
- Cho vay đầu tư và thu hồi nợ;
- Hỗ trợ lãi suất sau đầu tư;
- Thực hiện việc bảo lãnh cho các chủ đầu tư vay vốn đầu tư; tái bảo lãnh và nhận tái bảo lãnh cho các quỹ đầu tư;
- Ủy thác, nhận ủy thác cho vay vốn đầu tư;
- Thực hiện một số nhiệm vụ khác do Thủ tướng Chính phủ giao.

Ngoài các nhiệm vụ nêu trên, tại Quyết định số 133/2001/QĐ-TTg ngày 10/9/2001 về việc ban hành Quy chế tín dụng hỗ trợ xuất khẩu, Quỹ HTPT được Thủ tướng Chính phủ giao thực hiện nhiệm vụ tín dụng hỗ trợ xuất khẩu theo quy định tại Quyết định này, kể từ ngày 10/9/2001.

Theo Quyết định số 193/2001/QĐ-TTg ngày 20 tháng 12 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ thì hệ thống Quỹ HTPT còn đảm nhiệm công tác điều hành tác nghiệp bộ máy của Quỹ Bảo lãnh Doanh nghiệp vừa và nhỏ, một số Chi nhánh Quỹ quản lý điều hành tác nghiệp Quỹ Đầu tư phát triển của địa phương do UBND các tỉnh, thành phố thành lập. Hàng năm, Quỹ được ngân sách Nhà nước cấp thông qua phí hoạt động tính trên tổng dư nợ bình quân đối với vốn trung dài hạn trong nước và vốn nước ngoài (ODA).

3. Tổ chức bộ máy, nhân sự của Quỹ HTPT
Theo Nghị định số 50/1999/NĐ-CP ngày 8/7/1999 của Chính phủ và Quyết định số 231/1999/QĐ-TTg ngày 17/12/1999 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Điều lệ tổ chức và hoạt động của Quỹ hỗ trợ phát triển, bộ máy quản lý và điều hành của Quỹ HTPT gồm có: Hội đồng quản lý; Ban kiểm soát; Tổng giám đốc, các Phó Tổng giám đốc và các phòng, ban nghiệp vụ (cơ quan điều hành).

- Hội đồng quản lý: gồm 05 thành viên, trong đó có 02 thành viên chuyên trách là Chủ tịch và Phó Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc và 03 thành viên bán chuyên trách là đại diện có thẩm quyền (Thứ trưởng) của Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và đầu tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
- Ban Kiểm soát: gồm 3-5 thành viên chuyên trách (trừ Trưởng và Phó ban).
- Cơ quan điều hành:
Quỹ có Tổng Giám đốc, các Phó Tổng Giám đốc giúp Tổng Giám đốc và các Phòng, Ban chuyên môn nghiệp vụ.

Bộ máy điều hành Quỹ Trung ương bao gồm các Ban, Văn phòng, Trung tâm.

Quỹ Hỗ trợ phát triển ở địa phương là các Chi nhánh Quỹ hỗ trợ phát triển, Sở Giao dịch.

Thủ tướng Chính phủ quyết định bổ nhiệm Hội đồng quản lý, Trưởng ban Kiểm soát, Tổng Giám đốc và các Phó Tổng Giám đốc.
Tổng Giám đốc là đại diện pháp nhân của Quỹ.

Tổng Giám đốc quyết định việc bổ nhiệm, miễn nhiệm Trưởng, Phó các Phòng, Ban, Trung tâm thuộc Quỹ Trung ương; Giám đốc, Phó giám đốc các Chi nhánh và Kế toán trưởng sau khi được Hội đồng quản lý Quỹ chấp thuận; bổ nhiệm, miễn nhiệm các Trưởng phòng của Chi nhánh Quỹ theo đề nghị của Giám đốc Chi nhánh. Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm các Phó trưởng phòng tại các Chi nhánh do Giám đốc Chi nhánh quyết định trên cơ sở chấp thuận của Tổng Giám đốc.

- Tại Quỹ Hỗ trợ phát triển trung ương:
Từ 01/01/2000, Quỹ Hỗ trợ phát triển trung ương có 12 Ban, Văn phòng. Đến năm 2004, sau 5 năm triển khai hoạt động, Quỹ HTPT đã tiến hành đánh giá, tổng kết mô hình tổ chức bộ máy tại cơ quan Quỹ TW để kiện toàn xây dựng mô hình tổ chức bộ máy cho phù hợp hơn. Tại thời điểm này, cơ quan Quỹ Trung ương bao gồm 17 Ban, Phòng, Văn phòng, Trung tâm:
- Tại các tỉnh, thành phố trực thuộc TW:
Hệ thống Quỹ HTPT có 02 Sở Giao dịch và 59 Chi nhánh tại 62 tỉnh, thành phố trực thuộc TW (tại thời điểm đó 02 tỉnh chưa có Chi nhánh là Đắc Nông và Hậu Giang).
Tại thời điểm 01/01/2000, trên cơ sở Quỹ HTPT tiếp nhận bàn giao từ Tổng cục Đầu tư phát triển, có tổng số 1.440 cán bộ (trong đó: cơ quan Quỹ TW: 88 cán bộ; các Chi nhánh: 1.382 cán bộ). Số cán bộ có trình độ đại học trở lên chiếm 58.4% (841 người).

Việc hình thành và phát triển hệ thống Quỹ HTPT để thực hiện chính sách tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước là bước kế tiếp thành công của sự đổi mới mô hình tổ chức tài chính của Chính phủ trong điều hành kinh tế vĩ mô. Trong điều kiện khả năng tích luỹ của ngân sách Nhà nước cho đầu tư phát triển có hạn, cùng với các chính sách thu hút đầu tư, Chính phủ đã có thêm công cụ khai thác nguồn vốn trong xã hội để hỗ trợ phát triển các ngành, các vùng, các sản phẩm trọng điểm, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy xuất khẩu và khai thác những tiềm năng to lớn của đất nước cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Tuy nhiên, sau hơn 5 năm thực hiện nhiệm vụ của Chính phủ giao, bên cạnh những cố gắng nỗ lực để vượt qua những thách thức trong thời kỳ đổi mới, năng lực tổ chức điều hành, năng lực thẩm định, dự báo của Quỹ Hỗ trợ phát triển còn chưa theo kịp sự phát triển của nền kinh tế, đặc biệt là khả năng đánh giá hiệu quả của các dự án đầu tư trong 5-10 năm còn hạn chế, phần nào ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư. Hệ thống cơ chế chính sách về tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, các cơ chế quản lý và điều hành của Nhà nước và của bản thân Quỹ Hỗ trợ phát triển đã bộc lộ những tồn tại, vướng mắc. Chính những tồn tại, vướng mắc này đã hạn chế khả năng phát triển của Quỹ HTPT, ảnh hưởng đến an toàn trong hoạt động tài chính, ảnh hưởng đến việc hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Để nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức tài trợ phát triển, phù hợp với điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, ngày 19/5/2006 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 108/2006/QĐ-TTg thành lập Ngân hàng Phát triển Việt Nam trên cơ sở tổ chức lại hệ thống Quỹ HTPT.

III. RA ĐỜI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – CÔNG CỤ THỰC THI CÁC CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA ĐẤT NƯỚC

Ngày 19/05/2006, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 108/2006/QĐ-TTg về việc thành lập Ngân hàng phát triển Việt Nam (NHPT) trên cơ sở tổ chức lại hệ thống Quỹ Hỗ trợ phát triển (HTPT) để thực hiện chính sách tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước.
Ngày 19/5/2006, Thủ tướng Chính phủ cũng ban hành Quyết định số 110/2006/QĐ-TTg về việc phê duyệt Điều lệ tổ chức và hoạt động của NHPT.

Tiếp đó, ngày 30/3/2007, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 44/2007/QĐ-TTg về việc ban hành Quy chế quản lý tài chính đối với Ngân hàng Phát triển Việt Nam.

1. Chức năng nhiệm vụ của NHPT

1.1. Ngân hàng Phát triển Việt Nam có tư cách pháp nhân, có vốn điều lệ, có con dấu, được mở tài khoản tại Ngân hàng Nhà nước, Kho bạc Nhà nước, các ngân hàng thương mại trong nước và nước ngoài, được tham gia hệ thống thanh toán với các ngân hàng và cung cấp dịch vụ thanh toán theo quy định của pháp luật. Ngân hàng Phát triển Việt Nam kế thừa mọi quyền lợi, trách nhiệm từ Quỹ Hỗ trợ phát triển.
Vốn Điều lệ của NHPT là 5.000 tỷ đồng từ nguồn vốn điều lệ hiện có của Quỹ Hỗ trợ phát triển. Tại Quyết định số 44/2007/QĐ-TTg ngày 30/3/2007, Thủ tướng Chính phủ quyết định: Ngân hàng Phát triển Việt Nam thuộc sở hữu nhà nước, có vốn điều lệ là 10.000 tỷ đồng.

Hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam không vì mục đích lợi nhuận, tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng 0% (không phần trăm), không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi.
Ngân hàng Phát triển được Chính phủ bảo đảm khả năng thanh toán, được miễn nộp thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật.

Thời hạn hoạt động của Ngân hàng Phát triển là 99 năm, kể từ ngày Quyết định số 108/2006/QĐ-TTg ngày 19/5/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập NHPT có hiệu lực.

1.2. Ngân hàng Phát triển có nhiệm vụ:
- Huy động, tiếp nhận vốn của các tổ chức trong và ngoài nước để thực hiện tín dụng đầu tư phát triển và tín dụng xuất khẩu theo quy định của Chính phủ;

- Thực hiện chính sách tín dụng đầu tư phát triển và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước theo quy định;
- Nhận uỷ thác quản lý nguồn vốn ODA được Chính phủ cho vay lại; nhận uỷ thác, cấp phát cho vay đầu tư và thu hồi nợ của khách hàng từ các tổ chức trong và ngoài nước thông qua hợp đồng nhận uỷ thác giữa Ngân hàng Phát triển với các tổ chức uỷ thác;
- Uỷ thác cho các tổ chức tài chính, tín dụng thực hiện nghiệp vụ tín dụng của Ngân hàng Phát triển;
- Cung cấp các dịch vụ thanh toán cho khách hàng và tham gia hệ thống thanh toán trong nước và quốc tế phục vụ các hoạt động của Ngân hàng Phát triển theo quy định của pháp luật.
- Thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tín dụng đầu tư phát triển và tín dụng xuất khẩu.

1.3. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Ngân hàng Phát triển tiếp tục được Thủ tướng Chính phủ tin tưởng giao thêm một số nhiệm vụ sau:

- Bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn Ngân hàng thương mại theo Quyết định số 14/QĐ-TTg ngày 21/01/2009 của Thủ tướng Chính phủ;
- Cho Doanh nghiệp gặp khó khăn do suy giảm kinh tế vay vốn trả nợ lương và thanh toán BHXH đối với người lao động mất việc làm theo Quyết định số 30/QĐ-TTg ngày 23/02/2009 của Thủ tướng Chính phủ.
- Thực hiện một số nhiệm vụ khác do Thủ tướng chính phủ giao.

2. Tổ chức bộ máy, nhân sự

2.1. Theo Quyết định số 108/2006/QĐ-TTg, cơ cấu tổ chức của NHPT gồm:
- Hội đồng quản lý
- Ban kiểm soát
- Bộ máy điều hành gồm:
+ Hội sở chính đặt tại Thủ đô Hà Nội
+ Sở giao dịch, Chi nhánh, Văn phòng đại diện trong nước và nước ngoài.
Cho đến thời điểm hiện nay, toàn hệ thống NHPT có 02 Sở Giao dịch, 05 Chi nhánh khu vực và 49 Chi nhánh NHPT tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Xem đầy đủ
Thu gọn
Chưa có thông tin
Chưa có thông tin
Chưa có nhận xét nào cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) - Chi nhánh tỉnh Khánh Hòa
 nhận xét về Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) - Chi nhánh tỉnh Khánh Hòa
Viết nhận xét về địa điểm Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) - Chi nhánh tỉnh Khánh Hòa
Đánh giá của bạn sẽ giúp mọi người biết chính xác, đầy đủ hơn về địa điểm này. Hãy đánh giá khách quan bạn nhé
Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu để bài nhận xét của bạn thật hoàn hảo
Đánh giá
1 2 3 4 5
Cấp 1: Nghèo nàn Cấp 2: Bình thường Cấp 3: Tốt Cấp 4: Rất tốt Cấp 5: Tuyệt vời
Mã kiểm tra *

Reload Image
Vietnamese English French Russian Đăng nhập Đăng ký